1. Cương yếu

Đọc sách Tinh hoa Triết học Phật giáo (Tuệ Sỹ dịch)

Tinh hoa Triết học Phật giáo

CƯƠNG YẾU

Tên gọi của tông phái này, tiếng Nhật là Kusha,1 là một danh từ giản lược của Phạn ngữ Abhidharma-Kośa (Kośa: Kusha). 2 Đó là nhan sách một tác phẩm của Thế Thân (Vasubandhu),3 viết về chủ thuyết duy thực và có thể dịch là “Kho tàng của Pháp tối thắng” (Thắng pháp hay Vô tỉ pháp). Chúng ta sẽ trở lại tác phẩm này ở sau.

Trước hết, chúng ta hãy nhận xét nghĩa từ “dharma” trong Phật giáo. Từ ngữ này xuất xứ từ động từ “dhṛ” (giữ lại, mang), và hình thức danh từ của nó, dharma, có nghĩa là cái được nắm giữ,4 hay “lý thể” nếu chúng ta giới hạn ý nghĩa của nó trong những tác vụ tâm lý mà thôi. Trình độ của lý thể này sẽ sai biệt tùy theo sự tiếp nhận của mỗi cá thể khác nhau. Ở đức Phật, nó là sự toàn giác hay viên mãn trí (bodhi: bồ-đề). Thứ đến, lý thể diễn tả trong ngôn từ sẽ là giáo thuyết, giáo lý, giáo pháp của Ngài. Thứ ba, lý tưởng đề ra cho các đệ tử của Ngài thì là Luật nghi, Giới cấm, Giới điều, Đức lý. Thứ tư, lý thể để chứng ngộ sẽ là nguyên lý, thuyết lý, chân lý, lý tính, bản tính, luật tắc, điều kiện. Thứ năm, lý thể thể hiện trong một ý nghĩa tổng quát sẽ là thực tại, sự kiện, sự thể, yếu tố (thụ tạo hay không thụ tạo), Tâm và Vật, Ý thể và Hiện tượng. Trong trường phái duy thực của các Luận sư A-tì-đàm, từ ngữ dharma được dùng nhiều nhất theo nghĩa thứ năm cuối cùng này.

Bây giờ đến lúc chúng ta tìm hiểu Abhidharma có nghĩa là gì. Tiếp đầu ngữ “abhi” cho ta nghĩa “hơn thế” hay “nói về”. Như vậy, Abhidharma,5 có nghĩa là “Pháp tối thắng hay Đặc thắng” hay “Trần thuật về Dharma”. Cả hai đều thích nghi với mục đích của chúng ta. Trong khi dharma là giáo lý tổng quát của Phật, thì Abhidharma là một luận giải siêu hình đặc biệt do các bậc trưởng lão mang lại.

Hầu hết những trường phái A-tì-đàm có lẽ đã phát khởi sau cuộc kiết tập của Aśoka (khoảng 240 ttl.), bởi vì văn học A- tì-đàm gồm tất cả 7 bộ luận, lần đầu tiên được công nhận là một trong Ba tạng kinh (Tripiṭaka) trong cuộc kiết tập này.6 Trong cuộc kiết tập lần đầu và lần thứ hai chỉ có hai tạng (Kinh: Sūtra, và Luật: Vinaya).7 Trong kỳ kiết tập Aśoka này, Abhidharma được thêm vào lập thành Tam tạng.

Trong khi Thượng tọa bộ (Theravāda)8 nẩy nở ở phương Nam, chính yếu là ở Tích lan, thì một trường phái của duy thức công khai hơn đang lớn mạnh ở phương Bắc, nhất là ở Kaśmīra và Gandhāra.

Sự có mặt của Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda)9 này có thể được nhận thấy, trong lịch sử Ấn độ, kéo dài từ cuộc kiết tập của Phật giáo dưới thời Aśoka cho đến thời Nghĩa Tịnh10 du hành sang Ấn (671-695 stl.).11 Trong tập Luận sự (Katha-Vatthu) được soạn tập vào thời vua A-dục (Aśoka), Hữu bộ hình như chiếm một địa vị vững chắc giữa những phần tử tranh biện. Cứ điểm chính của bộ phái này là ở Kaśmīra (Ca-thấp-di-la hay Kế-tân), ở đó, chủ thuyết này được giảng dạy trong tinh túy của nó và cuối cùng được khai triển thành một hệ thống chi li được gọi là Tì-bà-sa (Vaibhāṣika).12

Theo thời gian, một chi lưu khác của phái Tì-bà-sa (Vaibhāṣika) được thiết lập ở Gandhāra (Kiện-đà-la) và hình như rất khác biệt với phái Kaśmīra trong một vài quan điểm; bởi vì, cả hai thường được trích dẫn song song trong một vài bản văn thường được dùng.

Phạm vi địa lý của bộ phái này rộng lớn hơn bất cứ một bộ phái nào khác, vì phổ biến khắp Ấn độ, đến cả biên cương phía Bắc là Persia, Trung Á, và tận miền Nam là Sumatra, Java, Đông dương và toàn thể Trung hoa.

Nhất thiết hữu bộ liên hệ chặt chẽ với bộ phái chính truyền là Thượng tọa bộ. Nó tách khỏi bộ phái này lần đầu tiên có lẽ trước cuộc kết tập Aśoka. Cái ý niệm cho rằng tất cả các pháp đều hiện thực có thể ngược dòng từ thời đại của chính đức Phật, bởi vì từ ngữ “sabha-atthi” (tất cả đều hiện thực) được thấy ngay trong Samyutta-Nikāya (Tương ưng bộ kinh).13

Bản văn Abhidharma chính yếu của bộ phái này là Jñānaprasthāna 14 của Kātyāyanīputra (Ca-đa-diễn-ni tử) cũng được gọi là Aṣṭa-grantha (Bát kiền độ luận),15 có lẽ được tập thành rất sớm, khoảng 200 trước TL. Những tác phẩm phụ theo của bộ phái này hình như là chú giải chuyên biệt về chủ đề chứa đựng trong đó. Ít ra có 6 Pada16 (Lục túc luận), tên gọi mà người ta đa đặt cho những tác phẩm này, còn truyền đến chúng ta.

Rồi có lẽ vào thế kỷ II TL – trước hay sau cuộc kiết tập của triều Kaniṣka, chúng ta không thể nói được – một sớ giải vĩ đại và chi ly mệnh danh Ti-bà-sa luận (Vibhāsā-śāstra) được tập thành dựa trên tác phẩm của Kātyāyanīputra. Từ ngữ “Vibhāṣā” có nghĩa là một “quảng diễn”, hay những “dị kiến”,17 và tiêu đề này tỏ ra rằng nhiều quan điểm của thời ấy được tập họp và phê bình chi tiết, và một vài quan điểm riêng tư được tuyển chọn và ghi chép lại. Mục đích chính của sớ giải Tì-bà-sa là lưu truyền lập trường chính xác của trường phái A-tì-đàm, từ đó trường phái này mới được gọi là phái Vaibhāṣika (Tì-bà-sa sư).

Rồi xuất hiện một yếu thư của học thuyết A-tì-đàm gọi là A-ti-đàm Tâm luận, Adhidharma-hṛidaya, của Dharmottara18 thuộc chi phái ở Gandhāra (được dịch sang Hán văn vào năm 391 stl.). Một bản chú giải về tác phẩm này là Samyukta-abhidharma-hṛdaya, do Dharmatrāta, 19 một đồ đệ của Dharmottara, soạn thảo. Tác phẩm này trở thành bản văn căn bản của chi phái Gandhāra và sau cùng là của phái A-tì-đàm Trung hoa.

1 Câu-xá 俱舍.

2 A-tì-đạt-ma câu-xá luận (viết tắt: Câu-xá) 阿毘達磨俱舍論, 30 quyển, Huyền Trang 玄奘 dịch. Taishô 29 No 1558. Bản dịch Pháp, bởi de la Vallée Pousin, L’ Abhidharmakosa de Vasubandhu, 6 vol.;

Paris 1923-31. Bổ sung: bản dịch Anh (từ bản Pháp), Leo M. Pruden, Abhidharmakosa, Asian Humanitié Press 1988-1990Nguyên bản Sanskrit, Abhidharmakośa-bhāṣyam of Vasubandhu, Edit. A. Thakur, Patna, 1975. Sớ giải của Yosśo, Spuṭārthāvyākhyā, phần I, 2, phẩm đầu, Varanasi, 1970. TS

3 Thế Thân (Vasubandhu) 世親, khoảng 420-500 TL.

4 Câu-xá 1, tr. 1b09, “Cái duy trì yếu tính của nó được gọi là pháp. Cf.

Bhāṣya: svalakṣanadhāraṇād dharmaḥ. TS

5 Cf. Bhāṣya: tad ayaṃ paramārthaṃ vā nirvāṇaṃ dharmalakṣaṇaṃ vā pratyabhimukhe dharma ity abhidharmaḥ, pháp đối diện trực tiếp với thắng nghĩa là niết-bàn, hay yếu tính của pháp, được gọi là abhidharma. Cf. Hán dịch, Câu-xá, ibid., “pháp đối hướng pháp thắng nghĩa là niết- bàn, hay đối quán pháp pháp tướng là bốn Thánh đế, phấp ấy được gọi là đối pháp.” TS

6 Xem, Takakusu, “On the Abhidharma Literature of Sarvastivadins ”,

Journal of the Pali Text Society, 1905.

7 Sūtra: các bài pháp do Phật thuyết; Vinaya: kỹ luật tu đạo do Phật chế.

8 Thượng tọa bộ 上座 部 .

9 Thuyết Nhất thiết hữu bộ 說一切有部.

10 I-tsing (Yi-Jing) 義 淨 .

11 Xem bản dịch của Takakusu, A Record of the Buddhist Religion as

Practised in India and Malay Archipelago (A.D. 671-695) bởi Nghĩa Tịnh. – (Hán: Nam hải ký quy nội pháp truyện 南海寄歸內法傳, 4 quyển, Taisho 54 No 2125. TS)

12 Tì-bà-sa 毘婆沙.

13 Bản dịch Anh bởi C.A.F. Rhys Davids và F.L. Woodward: The Book of Kindred Sayings, Pali Text Society Translation Series, Vols. VII, X, XIII, XV, XVI, 1918-30. Xem Rhys Davids’ Index to Samyutta, p. 107.

Tương đương Hán, Tạp A-hàm kinh 雜阿含經 (Tống, Cầu-na-bật-đà-la dịch, Taishô 2 No 99).

14 Phát trí luận. A-tì-đạt-ma Phát trí luận 阿毘達磨發智論, 20 quyển, tác giả Tôn giả Ca-đa-diễn-ni Tử 迦多衍尼子, Huyền Trang dịch. Taishô 26 No 1544. TS

15 A-tì-đàm Bát-kiền-độ luận 阿毘曇八犍度論, 30 quyển, tác giả Ca- chiên-diên Tử 迦旃延子 (Kātyāyanīputra), Tăng-già-đề-bà & Trúc Phật Niệm dịch. Taishô 26 No 1543. TS

16 Lục túc luận 六足論 .

17 Cf. Phổ Quang, Câu-xá luận ký 1 (T41n1821, 11a17): “Tì 毘(vi) nghĩa là quảng 廣(mở rộng); hoặc nổi thắng 勝(bật), hoặc dị 異(sai khác). Bà-sa 婆沙(bhāṣā) nghĩa là thuyết 說.Vì Luận này phân biệt nghĩa lý một cách rộng rãi, nên nói là Quảng thuyết. Vì thuyết minh

nghĩa lý một cách đặc sắc nên gọi là Thắng thuyết. Do sự giải thích nghĩa lý khác nhau của 500 vị A-la-hán, nên gọi là Dị thuyết.” TS

18 A-tì-đàm tâm luận 阿毘曇心論, Tôn giả Pháp Thắng tạo 尊者法勝造 Tăng-già-đề-bà và Tuệ Viễn dịch 僧伽提婆共惠遠, 4 quyển. Taishô 28 No 1550. Cf. A-tì-đàm tâm luận kinh 阿毘曇心論經, luận bản: Pháp Thắng, giải thích: Ưu-ba-phiến-đa 優波扇多, Tăng-già-đề-bà và Tuệ Viễn dịch 僧伽提婆共惠遠, 6 quyển. Taishô 28 No 1551. TS

19 Tạp A-tì-đàm tâm luận 雜阿毘曇心論, tác giả Pháp Cứu 法救, Tăng- già-bạt-ma 僧伽跋摩 dịch, 11 quyển. Taisho 28 No 1552. TS

20 A-tì-đạt-ma Phẩm loại túc luận 阿毘達磨品類足論, Tôn giả Thế Hữu 世友 tạo, Huyền Trang 玄奘 dịch; 18 quyển. Taishô 26 No 1542.

TS

21 A-tì-đạt-ma Thức thân túc luận 阿毘達磨識身足論, A-la-hán Đề-bà- thiết-ma 提婆設摩阿羅漢 tạo, Huyền Trang 玄奘 dịch, 16 quyển. Taishô 26 No 1539. TS

22 A-tì-đạt-ma Pháp uẩn túc luận 阿毘達磨法蘊足論. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên 大目乾連 tạo, Huyền Trang 玄奘 dịch; 12 quyển. Taishô 26 No 1537. TS

23 Thi thiết luận 施設論, tác giả khuyết, Pháp Hộ 法護 dịch, 7 quyển. Taishô 26 No 1538. TS

24 A-tì-đạt-ma Giới thân túc luận 阿毘達磨界身足論, Tôn giả Thế Hữu

世友 tạo, Huyền Trang 玄奘 dịch, 3 quyển. Taishô 26 No 1540. TS

25 A-tì-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論, Tôn giả Xá- lợi Tử 舍利子 tạo, Huyền Trang 玄奘 dịch, 20 quyển. Taishô 26 No 1536. TS

26 A-tì-đạt-ma Đại tì-bà-sa luận 阿毘達磨大毘婆沙論, Năm trăm Đại A-lan-hán 五百大阿羅漢 tạo, Huyền Trang 玄奘 dịch, 200 quyển. Taishô 26 No 1545. Cf. A-tì-đàm tì-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論, Ca- chiên-diên Tử tạo, Năm trăm La-hán giải thích, Phù-đà-bạt-ma & Đạo Thái 浮陀跋摩共道泰 dịch, 60 quyển. Taishô 18 No 1546. TS

27 Bệ-bà-sa luận 鞞婆沙論, Thi-đà-bàn-ni 尸陀槃尼 soạn, Tăng-già- bạt-trừng 僧伽跋澄 dịch, 14 quyển. Taishô 26 No 1547. TS

28 A-tì-đạt-ma Câu-xá thích luận 阿毘達磨俱舍釋論, Bà-tẩu-bàn-đậu

婆藪盤豆 tạo, Chân Đế 真諦 dịch, 22 quyển. Taishô 29 No 1559.

29 A-tì-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論, Tôn giả Thế Thân tạo,

Huyền Trang dịch, 30 quyển. Taishô 29 No 1558. Xem cht. 2, chương iv, tr. 35.

30 Trong các nhà chú giải về Câu-xá ở Trung hoa, không thấy có Khuy Cơ. Các bản sớ giải nổi tiếng: Phổ Quang 普光, Câu-xá luận ký 俱舍論記, 30 quyển; Taishô 41 No 1821. Pháp Bảo 法寶, Câu-xá luận sớ 

舍論疏, 30 quyển; Taishô 41 No 1822. Viên Huy 圓暉, Câu-xá luận tụng sớ 俱舍論頌疏, 30 quyển; Taishô 41 No 1823. Và nhiều nhà chú

giải khác, Như Thần Thái, Pháp Doanh, Huệ Huy, Tuần Luân, v.v.; có 90 vị.

31 A-tì-đạt-ma Câu-xá luận bản tụng 阿毘達磨俱舍論本頌, Huyền Trang dịch, 1 quyển. Taisho 29 No 1560. TS

32 A-tì-đạt-ma Thuận Chính lý luận 阿毘達磨順正理論, Tôn giả Chúng Hiền 眾賢 tạo, Huyền Trang dịch, 80 quyển. Taisho 29 No 1562. TS

33 A-tì-đạt-ma tạng Hiển tông luận 阿毘達磨藏顯宗論, Chúng Hiền tạo, Huyền Trang dịch, 40 quyển. Taisho 29 No 1562. TS